Bí tiểu và rối loạn đi tiểu sau phẫu thuật sản, phụ khoa là một trong những biến chứng đường tiết niệu thường gặp, gây ảnh hưởng đến quá trình hồi phục và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Việc nhận biết sớm các dấu hiệu, xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời sẽ giúp bảo vệ chức năng hệ tiết niệu, mang lại sự an tâm và nâng cao sức khỏe toàn diện cho người bệnh.
BÍ TIỂU VÀ RỐI LOẠN ĐI TIỂU SAU PHẪU THUẬT LÀ GÌ?
Rối loạn chức năng bàng quang sau phẫu thuật sản, phụ khoa là tình trạng bàng quang không chứa hoặc tống xuất nước tiểu bình thường. Thường gặp nhất là bí tiểu sau phẫu thuật:
- Bí tiểu hoàn toàn: Người bệnh buồn tiểu, căng tức vùng hạ vị nhưng không thể đi tiểu.
- Bí tiểu không hoàn toàn: vẫn tự đi tiểu được nhưng còn nước tiểu tồn dư trong bàng quang (thường trên 150ml - 200ml).
Hình 1 : Cấu trúc vùng chậu
Hình 2: Bí tiểu
NGUYÊN NHÂN GÂY BÍ TIỂU VÀ RỐI LOẠN ĐI TIỂU SAU PHẪU THUẬT
Rối loạn đi tiểu sau mổ thường do nhiều nguyên nhân kết hợp:
- Thuốc gây tê, gây mê: làm giảm cảm giác buồn tiểu và khả năng co bóp của bàng quang.
- Tổn thương thần kinh vùng chậu: có thể xảy ra sau các phẫu thuật sản phụ khoa lớn, làm giảm chức năng tống xuất nước tiểu.
- Chấn thương cơ học và phù nề tại chỗ: sau chuyển dạ khó, sinh can thiệp hoặc phẫu thuật vùng chậu, gây cản trở dòng tiểu.
- Yếu tố tâm lý và đau đớn: đau sau mổ khiến cơ sàn chậu và cơ vòng niệu đạo co thắt, làm khó đi tiểu.
PHỤ NỮ NÀO CÓ NGUY CƠ CAO BỊ RỐI LOẠN ĐI TIỂU SAU PHẪU THUẬT?
- Tiền căn sản khoa: Sanh con trên 4000g; sanh can thiệp hoặc tổn thương tầng sinh môn nặng.
- Yếu tố phẫu thuật: phẫu thuật vùng chậu, phẫu thuật điều trị sa tạng chậu.
- Lưu ống thông tiểu lâu: làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiểu và giảm chức năng co bóp của bàng quang.
- Tiền sử bệnh lý: rối loạn tiểu tiện, đái tháo đường, béo phì, táo bón nặng hoặc bệnh lý thần kinh.
CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG NHẬN BIẾT
NHỮNG HẬU QUẢ KHI KHÔNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI
- Về thể chất: Bí tiểu kéo dài có thể làm giảm chức năng co bóp, tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm đài bể thận, và trong trường hợp nặng có thể ảnh hưởng chức năng thận.
- Về tinh thần: Gây đau, lo lắng, khó chịu, có thể kéo dài thời gian nằm viện.
QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN VÀ THEO DÕI TẠI BỆNH VIỆN
- Đánh giá lâm sàng: theo dõi thời gian đi tiểu đầu tiên sau mổ/sau sinh, khám phát hiện "cầu bàng quang" (bàng quang căng to).
- Siêu âm đo thể tích bàng quang: đo lượng nước tiểu trong bàng quang hoặc lượng nước tiểu tồn dư ngay sau khi đi tiểu.
- Đặt thông tiểu ngắt quãng: xác định lượng nước tiểu tồn lưu và giải áp bàng quang.
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VÀ CHĂM SÓC HIỆN NAY
Điều trị nhằm giải áp bàng quang sớm, giảm đau, phục hồi chức năng đi tiểu tự nhiên:
- Các biện pháp hỗ trợ tâm lý và kích thích phản xạ: tạo tâm lý thoải mái, chườm ấm hoặc kích thích bằng nước ấm để hỗ trợ đi tiểu..
- Kiểm soát đau: Sử dụng thuốc giảm đau theo chỉ định.
- Đặt thông tiểu ngắt quãng: thông tiểu ngắt quãng hoặc lưu ống thông khi người bệnh không thể tự đi tiểu được hoặc có lượng nước tiểu tồn lưu lớn.
- Điều trị bằng thuốc: dùng thuốc theo chỉ định để tăng co bóp bàng quang hoặc làm giãn cổ bàng quang và niệu đạo.
- Phục hồi chức năng sàn chậu: tập cơ sàn chậu (Kegel) phối hợp với kích thích điện hoặc Biofeedback sẽ giúp phục hồi chức năng bàng quang và sàn chậu.
THÔNG ĐIỆP GỬI GẮM ĐẾN NGƯỜI BỆNH
Bí tiểu và rối loạn đi tiểu sau phẫu thuật sản, phụ khoa có thể phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị hiệu quả nếu được xử trí kịp thời. Sau sinh hoặc sau phẫu thuật, chị em không nên chủ quan hay tự điều trị. Khi có dấu hiệu khó đi tiểu, bí tiểu hoặc tiểu bất thường, hãy báo ngay cho bác sĩ hoặc điều dưỡng để được thăm khám và can thiệp sớm, hạn chế biến chứng.
Thông tin trong bài mang tính tham khảo, không thay thế cho tư vấn chẩn đoán và điều trị của nhân viên y tế. Người bệnh nên đến cơ sở y tế để được thăm khám khi có dấu hiệu bất thường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Trung Vinh (2022), "Điều trị bảo tồn sa tạng chậu", Sàn chậu học, Nhà xuất bản Y học.
2. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, Nhà xuất bản Y học.
3. Hoffman BL, et al. (2020), Williams Gynecology, 4th Edition, McGraw-Hill Medical.
4. ACOG Practice Bulletin No. 224 (2020), "Postoperative Urinary Retention in Gynecologic Surgery", Obstetrics & Gynecology.
5. Pados G, et al. (2023), "Urinary retention after laparoscopic and open gynecological surgeries: prevalence and risk factors", Journal of Gynecologic Surgery, 39(2), pp. 112-118.
Tin, bài: Trần Thị Thanh Thủy